Thứ hai, ngày 31/08/2026 16:12 GMT+7
Thu Anh Thứ hai, ngày 31/08/2026 16:12 GMT+7
Vợ chồng anh chị L – Đ ở Ninh Bình, đều mới 30 tuổi, kết hôn được 2 năm nhưng chưa có con. Trước đó, chị L từng mang thai nhưng không may bị lưu thai ở tuần thứ 8. Sau khi thai lưu, chị L đã thực hiện hút thai lưu tại một cơ sở y tế. Tuy nhiên, sau thủ thuật, chị được xác định còn sót rau và phải thực hiện hút kiểm soát buồng tử cung lần thứ hai.
Sau 2 năm quan hệ vợ chồng đều đặn nhưng chưa có thai trở lại, anh chị quyết định đến thăm khám tại Hà Nội để tìm hiểu nguyên nhân vì sao mãi chưa có con.
BSCK Trịnh Thị Hiền (Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện An Việt) cho biết sau khi thăm khám và thực hiện các xét nghiệm đánh giá khả năng sinh sản, kết quả cho thấy dự trữ buồng trứng của người vợ và các chỉ số tinh dịch đồ của người chồng đều trong giới hạn bình thường. Đây là những yếu tố thuận lợi về mặt sinh sản.

Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện hơn nguyên nhân chưa có thai, bác sĩ chỉ định chụp X-quang tử cung – vòi trứng (HSG), nhằm khảo sát hình thái buồng tử cung và độ thông của hai vòi trứng.
Kết quả cho thấy hai vòi trứng đều thông, nhưng hình ảnh buồng tử cung xuất hiện vùng dính niêm mạc tử cung tại vị trí giữa buồng tử cung.
Tiền sử can thiệp buồng tử cung là yếu tố cần lưu ý
Khai thác kỹ tiền sử sản khoa, BS. Trịnh Thị Hiền ghi nhận chị L từng trải qua hai lần can thiệp vào buồng tử cung trong quá trình xử trí thai lưu và sót rau.
Theo bác sĩ, các thủ thuật như hút thai lưu, hút tổ chức còn sót sau sảy thai hoặc sau sinh… nếu gây tổn thương lớp đáy của nội mạc tử cung có thể làm tăng nguy cơ hình thành các dải xơ dính giữa các thành của buồng tử cung.
Tình trạng này được gọi là dính buồng tử cung. Mức độ dính có thể rất khác nhau, từ những dải dính nhỏ cho đến tình trạng dính rộng làm biến đổi đáng kể cấu trúc buồng tử cung.
Dính buồng tử cung có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản thông qua nhiều cơ chế, trong đó có việc làm giảm diện tích niêm mạc tử cung lành, gây biến đổi cấu trúc buồng tử cung và ảnh hưởng đến quá trình làm tổ của phôi. Ở những trường hợp dính nặng, người bệnh còn có thể gặp rối loạn kinh nguyệt hoặc vô kinh.
Điều đáng lưu ý là không phải tất cả trường hợp dính buồng tử cung đều biểu hiện bằng triệu chứng rõ ràng. Một số phụ nữ vẫn có kinh nguyệt tương đối bình thường nhưng gặp khó khăn trong việc mang thai hoặc có tiền sử sảy thai, thai lưu.
Điều trị nhằm phục hồi buồng tử cung, tạo điều kiện cho phôi làm tổ
Sau khi đánh giá tình trạng của chị L, BSCK. Trịnh Thị Hiền tư vấn phương án phẫu thuật nội soi buồng tử cung tách dính. Mục tiêu của can thiệp là giải phóng các dải dính, khôi phục hình thái buồng tử cung và tạo điều kiện để lớp nội mạc tử cung có cơ hội phục hồi, từ đó hỗ trợ khả năng mang thai.
Việc lựa chọn phương pháp và thời điểm điều trị phụ thuộc vào mức độ dính, vị trí tổn thương, tình trạng nội mạc tử cung cũng như nhu cầu sinh sản của từng người bệnh. Sau điều trị, người bệnh cần được bác sĩ theo dõi và đánh giá lại buồng tử cung nhằm hạn chế nguy cơ tái dính và xây dựng kế hoạch mang thai phù hợp.
Trường hợp của chị L cho thấy trong đánh giá vô sinh – hiếm muộn, không nên chỉ tập trung vào dự trữ buồng trứng hay chất lượng tinh trùng. Chức năng sinh sản của người phụ nữ cần được đánh giá toàn diện, trong đó tình trạng buồng tử cung và vòi trứng đóng vai trò quan trọng.
Đặc biệt, với những phụ nữ từng trải qua các thủ thuật can thiệp vào buồng tử cung, nhất là sau sảy thai, thai lưu hoặc sót tổ chức thai, việc khai thác kỹ tiền sử và đánh giá hình thái buồng tử cung có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tìm nguyên nhân chậm có thai.
Chủ động thăm khám hiếm muộn đúng thời điểm, đánh giá toàn diện cả hai vợ chồng và xác định chính xác nguyên nhân là cơ sở để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, nâng cao cơ hội mang thai an toàn và hiệu quả, BS Hiền cho biết.