Chủ nhật, ngày 15/02/2026 16:52 GMT+7
Thanh Hà (thực hiện) Chủ nhật, ngày 15/02/2026 16:52 GMT+7
Bán nhà ở Hà Nội, chấp nhận cuộc sống thôn quê, chị Lương Thanh Hạnh- Giám đốc HTX dệt đũi Nam Cao đã từng bước vực dậy làng nghề dệt đũi Nam Cao với lịch sử 400 năm (xã Lê Lợi Thái Bình cũ nay thuộc xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên) trước nguy cơ bị mai một. Ngày nay, chúng ta có thể tự hào khi sản phẩm lụa đũi Nam Cao tự tin trưng bày trên các sạp hàng ở các nước phương Tây…
Năm 2012, giữa lúc sự nghiệp trong ngành nội thất đang ở đỉnh cao, với mức thu nhập khiến nhiều người mơ ước, chị Lương Thanh Hạnh – nhà thiết kế nội thất đã đưa ra một quyết định khiến nhiều người ngỡ ngàng, đó là: Bán nhà ở Hà Nội, từ bỏ cuộc sống hào hoa nơi Thủ đô về làng dệt đũi Nam Cao (xã Lê Lợi Thái Bình cũ nay thuộc xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên) với ý định gây dựng lại làng nghề truyền thống trước nguy cơ bị mai một.
Thời điểm này, làng nghề dệt đũi Nam Cao đang dần lụi tàn, số hộ gia đình làm nghề chỉ đếm trên đầu ngón tay, những tấm lụa đũi làm ra không tiêu thụ được phải cất trong hòm. Nhìn sản phẩm lụa đũi đẹp đẽ không tiêu thụ được, chị Hạnh cảm thấy tiếc nuối. Với quyết tâm gây dựng lại nghề dệt đũi với lịch sử 400 năm này, chị Hạnh đã mua lại các sản phẩm và động viên mọi người trong làng chung tay dựng lại nghề.
Những ngày đầu thuyết phục bà con dựng lại khung cửi, nuôi tằm, kéo sợi, dệt đũi chị Hạnh gặp không ít khó khăn, đó là làm sao để thay đổi tư duy của người dân rằng liệu sản phẩm làm ra có bán được không. Vừa động viên bà con, chị lại vừa đôn đáo đi tìm thị trường tiêu thụ, kết nối với thị trường trong và ngoài nước để lo đầu ra cho sản phẩm.
Năm 2016, Hợp tác xã Dệt đũi Nam Cao được thành lập với 30 thành viên, do chị Lương Thanh Hạnh làm Giám đốc. Cùng với đó là 90 hộ dân quay lại với nghề dệt để cung cấp lụa đũi cho hợp tác xã và mở rộng vùng trồng dâu, nuôi tằm, hình thành chuỗi sản xuất – cung ứng khép kín.
Sau 10 năm, từ 3 hộ hộ dân cuối cùng còn giữ nghề, đến nay đã có hơn 200 hộ tham gia sản xuất, với doanh thu khoảng 40 tỷ đồng/năm, hợp tác xã đã giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động ở địa phương với mức thu nhập từ 5-10 triệu đồng/người/tháng.
Ngày 10/11/2023, nghề dệt đũi Nam Cao được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2025, sản phẩm bộ chăn ga lụa đũi Nam Cao của Hợp tác xã tiếp tục được công nhận OCOP 4 sao.
Đến nay nghề dệt đũi Nam Cao đã trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách quốc tế yêu thích trải nghiệm văn hóa bản địa. Mỗi năm, làng nghề đón hàng chục ngàn lượt khách, trong đó trên 30% là người nước ngoài.
PV Báo điện tử Dân Việt đã có buổi trò chuyện đầy thú vị với chị Lương Thanh Hạnh- người phụ nữ đầy nghị lực, dám đánh đổi sự nghiệp để gây dựng làng nghề dệt đũi Nam Cao trước nguy cơ bị mai một.

Chị Lương Thanh Hạnh- Giám đốc HTX dệt đũi Nam Cao làng nghề dệt đũi Nam Cao (xã Lê Lợi Thái Bình cũ nay thuộc xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên) chia sẻ về nghề đũi tại làng dệt đũi Nam Cao với lịch sử 400 năm. (Ảnh: Huy Hoàng)
Là một nhà thiết kế nội thất, thời điểm năm 2012 khi đang ở đỉnh cao của công việc, với mức lương thu nhập cao, khiến nhiều người mơ ước. Cơ duyên nào khiến chị từ bỏ công việc thiết kế, quyết định gắn bó với nghề dệt đũi Nam Cao?
– Thời điểm tôi về thăm làng đũi Nam Cao, thấy các hộ dân chất đống khăn trong kho, khiến tôi thực sự nuối tiếc. Tôi tiếc vì sản phẩm chứa đựng bao tâm huyết của bà con lại bị bỏ xó, không tiêu thụ được.
Chứng kiến cảnh người dân trân quý sản phẩm mình làm ra không khác gì cất giữ tiền bạc, vàng thỏi trong nhà tôi vô cùng xúc động.
Khi mở hòm chứa đồ ra xem, tôi phải thốt lên: “Ôi, sao nhiều sản phẩm đẹp thế này!”. Lúc đó, tôi suy nghĩ: Những tấm đũi mộc mạc, trau chuốt, chứa đựng tình yêu của người dân nơi đây, tại sao lại không tiêu thụ được; tại sao lại không thể quảng bá rộng rãi trên thị trường? Chính điều đó là động lực, thôi thúc tôi cần phải làm gì đó để giúp người dân. Thời điểm đó, số hộ dân gắn bó với nghề cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tạo động lực cho bà con làng nghề, tôi đã đi tìm mua lại toàn bộ sản phẩm để tiêu thụ cho bà con.
Bản chất hiền lành của người dân làng nghề và tình thương giữa người với người đã thôi thúc tôi phải làm gì đó để vực dậy làng nghề, để người dân làng nghề dệt đũi Nam Cao có cuộc sống tốt hơn.

Thời điểm đó, những tấm lụa đũi trên thị trường được sản xuất quy mô công nghiệp rất hấp dẫn từ màu sắc đến các họa tiết, chị có nghĩ sản phẩm đũi rút tay thủ công Nam Cao sẽ khó cạnh tranh với các sản phẩm sẵn có trên thị trường và việc khôi phục làng nghề sẽ đầy thách thức không?
– Công nghệ sản xuất lụa của các quốc gia khác đã có tuổi đời hàng trăm năm. Nói đến lụa có thể kể đến Trung Quốc, lụa của ta khó lòng so sánh về độ trau chuốt, đồng nhất. Thế nhưng, điều độc đáo, lạ lẫm và đặc biệt nhất của lụa đũi Nam Cao chính là những nút thắt gồ ghề, những sợi to nhỏ không đều- đây vẻ đẹp tự nhiên khó lụa nào có thể sánh được.
Để làm ra được một sản phẩm như vậy, nó đòi hỏi bàn tay người làm nghề phải tỉ mẩn. Chính sự tỉ mỉ này đã khiến mỗi sản phẩm lụa đũi ra đời là duy nhất, không bao giờ có chiếc thứ hai giống hệt, chính điều này tạo nên “linh hồn” và giá trị xa xỉ thực sự cho đũi Nam Cao.
Cũng chính giá trị của sản phẩm đã khiến tôi kiên định và tự tin vào quyết định của mình.
Tại Ý, Pháp và các nước khác sản phẩm lụa của họ rất tinh tế, cao cấp, thế nhưng đến nay chị đã từng bước đưa sản phẩm đũi Nam Cao chinh phục các thị trường này. Đâu là yếu tố giúp sản phẩm lụa đũi Nam Cao tồn tại được ở thị trường các nước?
– Khi đưa đũi Nam Cao ra thế giới, thay vì chỉ bán một sản phẩm đơn thuần, tôi mang theo cả một câu chuyện. Tôi đã có cơ hội đến thăm nhiều nhà máy tại Ý và Pháp; sản phẩm của họ thực sự rất tinh tế. Tuy nhiên, sản phẩm của chúng ta có một thế mạnh riêng biệt, đó là: Chất liệu 100% tơ tằm được làm thủ công hoàn toàn tại Việt Nam.
Nhưng làm thủ công mới chỉ là một phần, điểm mạnh lớn hơn chính là “dòng chảy” của con người bên trong từng sợi vải. “Chất liệu này” mang vẻ đẹp khác biệt, sự sang trọng và đẳng cấp vốn rất phù hợp với gu thẩm mỹ phương Tây, đặc biệt là khi may các bộ vest, cà vạt hay blazer.

Khi các nhà thiết kế thời trang tại châu Âu như Pháp, Ý, hay cả Hàn Quốc chạm vào chất liệu đũi Nam Cao, họ đều nhận định đây là một sản phẩm tuyệt vời. Chính sự công nhận đó đã khẳng định rằng sợi đũi của chúng ta hoàn toàn có thể “hòa nhập” vào dòng chảy thời trang thế giới mà vẫn giữ vẹn nguyên cái chất mộc mạc, đặc trưng của vùng quê lúa Việt Nam.
Những giá trị nào đã giúp sản phẩm đũi Nam Cao từng bước định vị mình trên thị trường, có giá hơn các sản phẩm khác?
– Sự chậm rãi, tỉ mỉ của nghề thủ công chính là lời giải đúng hướng cho bài toán thời trang bền vững, tác động tích cực đến cả xã hội và môi trường. Ngành dâu tằm tơ là một hệ sinh thái không rác thải: cây dâu làm sạch không khí; lá dâu làm thức ăn cho tằm hoặc làm trà; thân cây có thể làm phân bón hoặc giá thể trồng nấm. Trong quá trình nuôi tằm, nếu có thuốc trừ sâu hay hóa chất, tằm sẽ chết ngay, nên đây là quy trình sạch tuyệt đối.
Ngay cả các công cụ sản xuất cũng hoàn toàn tự nhiên, từ khung dệt gỗ đến những chiếc mẹt, cái thống bằng mây tre đan của làng Thượng Hiền bên cạnh… Con đường này tuy chậm nhưng mang lại giá trị thực, là niềm tự hào về bản sắc mà chúng ta nên gìn giữ. Cũng chính quy trình sản xuất sạch bền vững này đã giúp sản phẩm đũi Nam Cao tồn tại và đứng vững trên thị trường.

Nỗi lo lớn nhất của các làng nghề là sự đứt gãy thế hệ. Chị đã và đang làm gì để những người trẻ ở Nam Cao không còn coi nghề dệt là một công việc khổ cực, nghèo nàn, mà là một nghề nghiệp có lòng tự trọng và mang lại tương lai rực rỡ?
– Để người trẻ Nam Cao không còn coi nghề này là khổ cực, nghèo nàn, tôi đã bắt đầu từ chính gia đình mình. Tôi cùng hai con gái đã rời Hà Nội về sống tại làng Nam Cao. Các con từ trường thành phố về học trường làng để thực sự trải nghiệm cuộc sống quê hương.

Tôi muốn các con và bạn bè cùng trang lứa thấy rằng làm nghề đũi là một công việc có lòng tự trọng và tương lai rực rỡ. Các con đã tham gia quảng bá cho khách nước ngoài, thêu vẽ nón lá tặng các nghệ nhân… Hợp tác xã cũng không ngừng nỗ lực tổ chức các cuộc thi kéo đũi, đánh ống dành riêng cho giới trẻ để khơi dậy niềm đam mê.
Trong tương lai xa, tôi dự định tổ chức các lớp học tiếng Anh ngay tại bản địa để các em có thể tự tin chào đón và giao lưu với khách quốc tế. Từ đó, thay vì sự thờ ơ, các con sẽ dành sự trân trọng và biết ơn sâu sắc cho di sản của cha ông, biến nó thành một nghề nghiệp hãnh diện.
Xin cảm ơn chị!