Thứ ba, ngày 06/01/2026 19:00 GMT+7
Gia đình 5 đời danh gia vọng tộc, quyền thế bậc nhất Việt Nam: Nhắc đến tên vị giáo sư này ai cũng kính nể
Tào Nga Thứ ba, ngày 06/01/2026 19:00 GMT+7
Sinh ra trong gia đình danh gia vọng tộc, Giáo sư Hồ Đắc Di được nhắc đến với những đóng góp lớn lao cho nền khoa học, giáo dục nước nhà. Chỉ cần đọc tên ông, giới chuyên môn và nhiều thế hệ học trò đều dành sự kính trọng, nể phục.
GS. Hồ Đắc Di – Người đặt nền móng cho giáo dục ngành Y
Giáo sư Hồ Đắc Di sinh ngày 11/5/1900 tại Hà Tĩnh, quê gốc ở làng An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình danh gia vọng tộc, quyền thế ở cố đô Huế, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho học. Tuy nhiên, ngay từ nhỏ, Giáo sư Hồ Đắc Di đã được gia đình định hướng theo con đường Tây học. Trong bối cảnh giao lưu, tiếp biến văn hóa Đông – Tây diễn ra mạnh mẽ đầu thế kỷ 20, đây là lựa chọn phù hợp với thời cuộc, mở ra nhiều cơ hội học tập và phát triển.
Ông được gửi ra Hà Nội theo học tại Trường Lycée Albert Sarraut, sau đó du học Pháp từ năm 1918 đến năm 1930. Sau khi hoàn thành chương trình trung học tại Bordeaux, ông theo học Khoa Y, Trường Đại học Tổng hợp Paris và được công nhận là bác sĩ nội trú ngành phẫu thuật.

Sau hơn mười năm học tập ở nước ngoài, Giáo sư Hồ Đắc Di trở về nước với mong muốn đem tri thức phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính quyền thực dân Pháp siết chặt các hoạt động chính trị, tư tưởng sau phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh, ông làm việc tại Huế với tư cách bác sĩ thực tập và phải chịu nhiều định kiến, khinh miệt từ phía người Pháp, trước khi được điều chuyển vào công tác tại Quy Nhơn.
Năm 1932, Hồ Đắc Di được mời ra công tác tại Trường Đại học Y và Bệnh viện Phủ Doãn. Tại đây, ông kiên trì đấu tranh đòi quyền hành nghề giải phẫu và trở thành người Việt Nam đầu tiên được chính quyền thực dân Pháp cho phép làm bác sĩ phẫu thuật.
Trong và sau Cách mạng Tháng Tám, dưới ảnh hưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cùng nền tảng văn hóa truyền thống và tinh thần yêu nước sâu sắc, nhiều trí thức tiêu biểu như Giáo sư Hồ Đắc Di đã sẵn sàng dấn thân vào sự nghiệp cách mạng và kháng chiến. Đóng góp của đội ngũ trí thức này được ghi nhận xứng đáng khi họ được giao đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong Chính phủ và bộ máy quản lý ở các ngành, các cấp.
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, bác sĩ Hồ Đắc Di được Chính phủ giao nhiều trọng trách như: Tổng Thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Đại học vụ, Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy.
Những năm tháng ở Việt Bắc là quãng thời gian đầy gian khó. Tuy nhiên, với quyết tâm và lòng yêu nước trong sáng, Giáo sư Hồ Đắc Di cùng với học trò là Giáo sư Tôn Thất Tùng đã trở thành linh hồn của Trường Đại học Y, đào tạo nhiều cán bộ y tế phục vụ trực tiếp cho kháng chiến, góp phần vào thắng lợi của dân tộc năm 1954.

Ngày 6/10/1947, Trường Đại học Y khai giảng khóa đầu tiên tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, với 2 giáo sư và 11 sinh viên, chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt. Giáo sư Hồ Đắc Di được cử làm Hiệu trưởng đầu tiên của Trường. Ông được cử giữ chức Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cho đến khi nghỉ hưu năm 1973. Ngôi trường không chỉ là nơi đào tạo cán bộ phục vụ trực tiếp cho kháng chiến và tương lai đất nước, mà còn là cái nôi khơi dậy, cổ vũ tinh thần yêu nước của thanh niên, trí thức trẻ.

Trong sự nghiệp khoa học, Giáo sư Hồ Đắc Di có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như: điều trị các biến chứng viêm phúc mạc do thương hàn bằng phương pháp phẫu thuật hiện đại; bài luận phân tích thống kê phẫu thuật viết cùng Giáo sư Huard, đăng trên Y học Viễn Đông (Paris); nghiên cứu về thủng túi mật hiếm gặp đăng trên Tạp chí Viện Hàn lâm Phẫu thuật năm 1937; nghiên cứu viêm phúc mạc do thủng ruột trong thương hàn đăng năm 1939; công trình mổ lấy thai nhi đăng trên Tạp chí Y học Hải ngoại (Pháp); các nghiên cứu về sốc do chấn thương, phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc và loét dạ dày – tá tràng ở Bắc Kỳ (1944).

Bên cạnh đó, ông là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa V, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa II, III, IV; từng giữ các chức vụ như Giám đốc Vụ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Ủy viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam…
Sau nhiều năm cống hiến cho nền y học nước nhà, Giáo sư Hồ Đắc Di qua đời ngày 25/6/1984 tại Hà Nội, hưởng thọ 84 tuổi. Để tưởng nhớ và tôn vinh ông, Hà Nội đã đặt tên ông cho một con phố – phố Hồ Đắc Di – nối liền với các phố Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch và Đặng Văn Ngữ, những tên tuổi tiêu biểu của nền y học Việt Nam hiện đại.
Một trong những học trò xuất sắc của Giáo sư Hồ Đắc Di là Giáo sư Tôn Thất Tùng. Khi đã trở thành viện sĩ của nhiều viện hàn lâm trên thế giới, Giáo sư Tôn Thất Tùng vẫn nhớ lời thầy dạy: “Khoa học là sự nổi dậy của tư duy. Đã làm khoa học thì phải luôn đặt lại vấn đề. Nếu không, sẽ chẳng còn gì để tìm kiếm và cũng không thể có phát minh”.
Trong hồi ký của GS.NGND Đào Văn Tiến (1920-1995), nguyên Chủ nhiệm Khoa Sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, mô tả Giáo sư Hồ Đắc Di là “người thấp, gầy, mặt xương xương, tóc chải lật ít bạc, ria con tằm, cái miệng hóm hỉnh, riêng đôi mắt sáng nhìn ai như xoáy vào lòng người. Bác luôn ăn mặc chỉnh tề, mùa nắng thì sơ mi và xăng đan, mùa rét thì complê đại cán, đi giày bốt tin đen đánh bóng. Bác thuộc loại người có duyên, khi nói chuyện, cặp mắt cười trước cái miệng, nên dễ hấp dẫn người nghe”.

Gia đình danh gia vọng tộc của Giáo sư Hồ Đắc Di
Giáo sư Hồ Đắc Di sinh trưởng trong một gia đình danh gia vọng tộc, có nhiều thế hệ giữ vị trí quan trọng trong triều đình và đời sống học thuật. Ông nội của Giáo sư là cụ Hồ Đắc Tuấn, từng được phong tước Hầu và đỗ Cử nhân khoa thi năm Tự Đức thứ 23. Bà nội là Công nữ Thức Huấn, con gái của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.
Thân phụ của Giáo sư là cụ Hồ Đắc Trung, đỗ Cử nhân, từng làm quan đến các chức vụ quan trọng như Tổng đốc Nam Ngãi, Thượng thư các Bộ Học, Lễ, Công; Đông các Điện Đại học sĩ, sung Cơ mật đại thần. Thân mẫu là bà Châu Thị Ngọc Lương.
Sáu người con trai của cụ Hồ Đắc Trung đều là những trí thức nổi danh, kết tinh truyền thống Nho học và Tây học của gia đình. Trong đó có Cử nhân Nho học Hồ Đắc Khải, từng giữ chức Thượng thư Bộ Hộ dưới triều vua Bảo Đại. Năm người còn lại đều là “ông nghè Tây”, gồm: Tiến sĩ Luật khoa Hồ Đắc Điềm, Tiến sĩ Y khoa Hồ Đắc Di, Tiến sĩ Địa chất Hồ Đắc Liên, Tiến sĩ Dược khoa Hồ Đắc Ân và Tiến sĩ Điều khiển học Hồ Đắc Thứ. Ngoài ra, trong dòng họ còn có bà Ân phi Hồ Thị Chỉ, chính thất của vua Khải Định.
Vợ của Giáo sư Hồ Đắc Di là bà Vi Kim Phú, con gái Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định. Hai ông bà kết hôn năm 1935. Con gái của giáo sư được nhiều người biết đến là bà Hồ Thể Lan, từng giữ chức Vụ trưởng Vụ Báo chí, Bộ Ngoại giao và là phu nhân của cố Phó Thủ tướng Vũ Khoan. Cháu ngoại của Giáo sư Hồ Đắc Di đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng ở Bộ Ngoại giao.