Thứ bảy, ngày 03/01/2026 13:00 GMT+7
Tào Nga Thứ bảy, ngày 03/01/2026 13:00 GMT+7
Gia đình Giáo sư Tôn Thất Tùng, huyền thoại của y học Việt Nam, là biểu tượng hiếm có của sự kế thừa tri thức khi thế hệ tiếp nối trở thành Giáo sư, tiến sĩ uy tín trong nước và quốc tế.
Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng – nhà khoa học đã làm rạng rỡ nền Y học Việt Nam
GS Tôn Thất Tùng – Anh hùng Lao động, danh nhân y học, một trí thức tiêu biểu của thời đại Hồ Chí Minh. Ông được mọi người nhớ với tấm lòng tôn kính nhà bác học tài năng, một thầy thuốc kiệt xuất và một nhà giáo đức độ.
Ông sinh ngày 10/5/1912 tại Thanh Hóa trong một gia đình quý tộc nhà Nguyễn, có cha là Tổng đốc Thanh Hóa Tôn Thất Niên. Khi ông tròn 3 tháng tuổi thì cha mất và được mẹ đưa ông rời Thanh Hóa vào Huế sinh sống.
Năm 1931, ông ra Hà Nội và thi đỗ vào trường Trung học bảo hộ (tức trường Bưởi – sau này là trường Chu Văn An). Năm 1935, ông đỗ và theo học ngành y tại trường Đại học Y khoa Hà Nội. Tốt nghiệp loại xuất sắc, ông cùng 10 sinh viên khác được tuyển làm ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn (sau này là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức).



BS. Tôn Thất Tùng giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng, là người đã chăm sóc sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ ngày đầu Cách mạng tháng Tám thành công, đã vinh dự được gần gũi Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người trực tiếp dìu dắt ân tình, với niềm tin yêu và tình cảm đặc biệt.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sát cánh bên GS. Hồ Đắc Di, GS. Tôn Thất Tùng đã có công tổ chức, xây dựng trường đại học Y khoa tiếp tục hoạt động ngay trong năm đầu kháng chiến chống Pháp và nhiều năm sau, đào tạo nhiều thầy thuốc quân y và dân y phục vụ bộ đội và nhân dân cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Năm 1955, GS. Tôn Thất Tùng đã xin nghỉ công tác Thứ trưởng Bộ Y tế để chuyên lo công việc chuyên môn: Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Chủ nhiệm bộ môn Ngoại của Trường Đại học Y Hà Nội. Giáo sư dành nhiều công sức cho công việc dạy học và nghiên cứu khoa học, làm thơ bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và Ông nhớ rất nhiều điển tích lịch sử và văn học.
GS. Tôn Thất Tùng là nhà khoa học đã làm rạng rỡ nền Y học Việt Nam trên thế giới với hai công trình phát minh khoa học lớn. Thứ nhất, đó là “Phương pháp cắt gan Tôn Thất Tùng”, một công trình khoa học giáo sư đã thực hiện và nghiên cứu trong suốt 38 năm, đã được quốc tế công nhận là phương pháp cắt gan có quy phạm và kinh điển, nhiều nước tiên tiến áp dụng. Thứ hai, đó là: “Những nghiên cứu đầu tiên về hậu quả lâu dài trên con người của chất độc da cam năm 1969”, khi thế giới đang dùng chất này như một chất diệt cỏ, mà quân Mỹ sử dụng ồ ạt trên chiến trường Việt Nam.

Tài năng lớn của GS. Tôn Thất Tùng còn thể hiện trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội. Ông nhấn mạnh đến vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách, đạo đức thanh thiếu niên, ông yêu cầu các thành phố phải dành đất làm sân chơi cho trẻ em. Ông cảnh báo về hiện tượng ô nhiễm môi trường và kêu gọi cần phải bảo vệ môi trường. Ông cũng nhắc đến việc phải cảnh giác với những tác hại của thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu và yêu cầu có cơ quan kiểm tra chất lượng và thực phẩm. Về giáo dục, ông đã có những nhận xét về hiện tượng nhồi nhét kiến thức trong dạy học cho học trò ở nhà trườn, mà ít chú ý đến học thực hành và học sinh phải thi cử quá nhiều…
Năm 1982, GS Tôn Thất Tùng đột ngột qua đời do một cơn nhồi máu cơ tim, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các học trò và rất nhiều bệnh nhân đã được cố giáo sư cứu chữa.
Giáo sư đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (1962), Huân chương Hồ Chí Minh (1982) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật (1996). Ngày nay, Thủ đô Hà Nội và các thành phố như Hồ Chí Minh, Huế, Vinh và Đà Nẵng… có những đường phố mang tên Tôn Thất Tùng.
Gia đình danh giá của Giáo sư Tôn Thất Tùng
Vợ của Giáo sư Tôn Thất Tùng là bà Vi Thị Nguyệt Hồ (1929 – 2022). Bà sinh ra trong một gia đình “danh gia vọng tộc”, là cháu nội của Tổng đốc Vi Văn Định, được gia đình tạo điều kiện học hành đầy đủ, thông thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Bà sớm đã kết hôn với giáo sư Tôn Thất Tùng khi tuổi đời còn rất trẻ, sau đó làm việc tại Bệnh viện Việt Đức. Trong kháng chiến chống Pháp, bà đã từng tham gia Hồng Thập tự, cứu chữa nhiều thương bệnh binh tại chiến khu Việt Bắc. Trong gia đình, bà luôn là hậu phương vững chắc của chồng và con trai. Cho đến ngày qua đời, bà đã trải qua hơn 60 năm gắn bó với nghề điều dưỡng trong đó hơn 40 năm công tác tại Bệnh viện Việt Đức và 20 năm là Chủ tịch Hội điều dưỡng Việt Nam.

Cố GS.BS Tôn Thất Tùng và vợ có ba người con đều học hành tài giỏi. Người con đầu là Viện sĩ Tôn Thất Bách sinh năm 1946, là Nhà giáo Nhân dân, Viện sĩ nhiều viện khoa học danh tiếng.
PGS.TS. Tôn Thất Bách là người có vinh dự được Bác Hồ đặt tên. Khi GS. Tôn Thất Tùng đến Bắc Bộ Phủ chăm sóc sức khoẻ cho Bác, Bác biết tin giáo sư có con trai đầu lòng: “Tên chú có bộ Mộc nên đặt cho con chú tên Bách”. PGS. Bách luôn được Bác Hồ nhắc đến mỗi khi Bác có dịp gặp hoặc víết thư cho GS. Tùng.
Tốt nghiệp năm 1969, bác sĩ Bách về công tác tại Bộ môn Ngoại của Trường Đại học Y Hà Nội và thường xuyên làm việc tại Bệnh viện Việt Đức dưới sự hướng dẫn, dìu dắt của GS. Tôn Thất Tùng. BS. Bách thường được gần cha, vừa phụ giúp Giáo sư Tùng mổ gan, vừa học hỏi. Năm 1973, vào đúng kíp trực của mình, BS. Bách được trực tiếp mổ một ca u gan phía bên phải. Đây là một phẫu thuật khó, ông đã mổ thành công. Tối hôm đó, cha của ông đã nói với người vợ: “Bách đã trưởng thành” – đó là bước ngoặt trong nghề nghiệp. Được đi học, được bố kèm cặp và các bậc đàn anh dìu dắt, cùng với khổ công rèn luyện BS. Bách dần dần trở thành một phẫu thuật viên tài năng của ngành Ngoại khoa Việt Nam.
PGS.VS.BS Tôn Thất Bách là một chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tim và gan mật của Việt Nam và thế giới. Thầy là Phó Giáo sư Y học, Nhà giáo Nhân dân, Viện sĩ Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris, Giáo sư – Tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học trên thế giới và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành Y như Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội. Không chỉ xuất chúng ở mặt chuyên môn, ông còn hoạt động tích cực trên chính trường với vai trò là đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa IX, X và XI, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội khóa XI.
PGS Tôn Thất Bách luôn đau đáu với nỗi khó khăn của người bệnh, biết có nhiều bệnh nhân phải chầu chực đi lại, tốn kém nhiều ngày để được mổ, ông làm kế hoạch huy động tất cả các phòng mổ cùng tham gia giải quyết, khiến khối lượng bệnh nhân phải chờ giảm hẳn. Thầy Bách cũng là người trực tiếp kiến tạo công trình Nhà nghỉ 207 giường với giá bình dân cho người nhà bệnh nhân ngay trong khuôn viên Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức với mong muốn “cho họ có chỗ nghỉ ngơi, giữ được sức khỏe, cho người bệnh an tâm không phải lo lắng đến người thân của họ”. Thời điểm đó, bệnh viện duy trì hàng ngày 100 suất ăn miễn phí cho người nghèo; gửi một hòm kính quyên góp luân phiên khắp nhiều bệnh phòng để các nhà hảo tâm khi đến viện cùng tham gia ủng hộ.
Chính vì tấm lòng trắc ẩn và thương yêu với người bệnh, đặc biệt là người bệnh nghèo, cùng phong cách đưa ra ý kiến trung thực, thẳng thắn, đầy trách nhiệm, PGS Tôn Thất Bách đã thể hiện tất cả tình yêu thương ấy bằng những hành động thiết thực, khiến người ta ngưỡng mộ mà gọi thầy với cái tên thân thương là “Ông nghị của người nghèo”.
Là người thành đạt trong công tác, được xã hội đánh giá cao nhưng ông luôn sống gương mẫu, điềm đạm, chân tình, khiêm tốn và giản dị. Ông được các đồng nghiệp quý mến, các học trò kính trọng. Người bệnh biết ơn ông, một người thầy thuốc mẫu mực, luôn tận tình, thông cảm và thương yêu họ.
Ông mất năm 2004 khi đang đi công tác trong một chương trình vì người nghèo ở tỉnh Lào Cai.
Người con thứ hai của Giáo sư Tôn Thất Tùng là bà Tôn Nữ Ngọc Trân, sinh năm 1950, nhiều năm học ở Nga, là kỹ sư hóa học, làm việc ở Viện Hóa (Viện khoa học Việt Nam), có chồng là tiến sĩ.
Cô con gái út là Tôn Nữ Hồng Tâm, bác sĩ Sinh Hóa, có chồng là ông Phạm Tuấn Phan (con trai cố Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch).