CON SỐ KHÔNG NÓI DỐI
Tháng trước, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đã công bố Việt Nam sẽ vượt Philippines về mức Thu nhập bình quân đầu người vào cuối năm nay. Điều này đến từ những động thái phòng chống virus quyết liệt của Việt Nam, giúp giảm thiểu đáng kể những tác động kinh tế của đại dịch. Nền kinh tế VN sẵn sàng tăng trưởng 3% vào năm 2020, trong khi nền kinh tế Philippines có thể sẽ giảm mạnh 9%.
Đây là một điều chắc chắn. Kể từ khi VN áp dụng chính sách Đổi Mới vào 1986 (bao gồm các cải cách kinh tế nhằm chuyển hướng VN thành một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN), mức thu nhập bình quân đã tăng từ 200$ lên đến 3.500$. Từ 1 trong những nước nghèo nhất châu Á, mức trung bình của người Việt hiện nay đã giàu hơn mức trung bình của người Phi.
Chuyện này tại sao lại xảy ra? Số phận của cả 2 quốc gia là kết quả của 2 con đường phát triển khác nhau. Trong khi VN áp dụng chính sách Công nghiệp hóa nhanh chóng thì Phi lại dựa vào dân số để thúc đẩy tăng trưởng. Chính phủ XHCN của VN đã thành công trong việc tiến hành những cải cách cần thiết để tạo thuận lợi cho môi trường sản xuất, còn Chính phủ Dân chủ của Phi lại chỉ thành công đc một chút.
Sự tụt hậu của ngôi sao kinh tế châu Á những năm 1960 này bắt đầu dưới sự lãnh đạo của Marcos. Trái ngược với lầm tưởng rằng những tháng ngày tốt đẹp nhất của đất nước là dưới thời Marcos, thì các số liệu đã cho thấy nền kinh tế bắt đầu giảm tốc và mất đi khả năng cạnh tranh dưới sự kiểm soát của Tổng thống chuyên quyền này. Trong thời kỳ “chế độ đạo tặc” của Marcos, các DN thuộc sở hữu tư nhân có khả năng sinh lợi và khả năng cạnh tranh đã bị “quốc hữu hóa” và chiếm đoạt cho các thân hữu. Trong số đó có những công ty sản xuất thép, xi măng, ô tô & phụ tùng ô tô, thiết bị điện tử nhẹ và xây dựng, cùng các công ty khác. Tất cả cuối cùng đã phải đóng cửa bởi sự quản lý yếu kém của đám thân hữu. Đó là thời điểm khả năng cạnh tranh của chúng ta trong những ngành này bị mất đi.
Marcos làm suy đồi các thể chế của chúng ta bằng cách tiêm nhiễm thứ “văn hóa” tham nhũng mà nó vẫn còn phổ biến cho đến tận ngày nay. Ông ta đã phá vỡ nền tài chính bằng cách tạo ra hàng tỷ $ nợ từ hàng loạt các dự án không đóng góp được gì vào năng suất quốc gia. Marcos khiến cho 2 thế hệ người Phi rơi vào cảnh đói nghèo.
Vào thời điểm chế độ độc tài bị lật đổ năm 1986, nền kinh tế đất nước chỉ còn là một đống đổ nát. Các tiện ích công cộng thuộc sở hữu của nhà nước hoạt động không hiệu quả. Các tổ chức chính phủ cũng vận hành kém hiệu quả vì nạn tham nhũng. Các doanh nghiệp tư nhân (DNTT) mất khả năng cạnh tranh và phải vật lộn để tồn tại. Mọi thứ còn trầm trọng hơn do tình trạng bay vốn khổng lồ và khoản nợ nước ngoài không thể trả nổi.
Khi Tổng thống Cory Aquino lên nắm quyền, ưu tiên hàng đầu của bà là tái lập các thể chế dân chủ và bà đã thực sự hành động. Nhưng thật không may là cả Cory và tất cả các vị Tổng thống sau đó, kể cả Tổng thống Duterte, đều không thực hiện cam kết Công nghiệp hóa đất nước như Việt Nam đã làm.
Như đã đề cập, các nhà lãnh đạo của chúng ta đều dựa vào dân số để thúc đẩy tăng trưởng. GMA dựa vào nguồn kiều hối nhân công xuất khẩu lao động để duy trì nền kinh tế. Liên minh PNoy thúc đẩy sự phát triển của ngành IT-BPO (ngành dịch vụ gia công quy trình kinh doanh-công nghệ thông tin) nhưng rồi sau này cũng trở thành một nguồn ngoại hối mới. Tổng thống Duterte phụ thuộc vào tiêu dùng hộ gia đình để chèo lái nền kinh tế.
Mặc dù kinh tế Philippines tăng trưởng trung bình 5,3% từ 2000-2019, nhưng nền tảng của nó vẫn còn “nông cạn”. Tôi nói “nông cạn” là bởi nền sản xuất của chúng ta vẫn yếu ớt một cách nguy hiểm, mức độ xuất khẩu thấp hơn đáng kể so với sản lượng nhập khẩu đang ngày một tăng, sản lượng nông nghiệp chỉ ở mức tự cung tự cấp và ngành dịch vụ nhìn chung chỉ bao gồm các dịch vụ giá trị thấp (vd: các trung tâm chăm sóc khách hàng). Nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế tiêu dùng, không phải nền kinh tế sản xuất.
Ngược lại, Việt Nam chấp nhận Công nghiệp hóa một cách hào hứng. Những năm đầu Đổi Mới (1986-1990), VN tìm cách đảm bảo an ninh lương thực. Để đạt được điều này, Chính phủ XHCN đã phân phối đất nông nghiệp và đưa ra các biện pháp khuyến khích mở rộng sản xuất. Thế độc quyền của nhà nước đối với thương mại quốc tế được phá bỏ, các DNTN được phép xuất nhập khẩu. Người dân được phân phối lại đất nông nghiệp và được phép giữ lại phần sản lượng dư thừa vượt mức chỉ tiêu đề ra. Các vùng được khuyến khích gieo trồng các giống hợp với lợi thế, thổ nhưỡng của mình. Việc kiểm soát giá được gỡ bỏ. Những cải cách này là nền tảng của cuộc Cách mạng Nông nghiệp ở Việt Nam và là lý do ngày nay họ trở thành cường quốc nông nghiệp- nước xuất khẩu ròng các sản phẩm nông nghiệp.
Năm 1987, Chính phủ VN ban hành Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên nhằm thu hút vốn nước ngoài và phát triển lĩnh vực công nghiệp. Luật cho phép nước ngoài được sở hữu tài sản vật chất trong nước và mở cửa hầu hết các ngành công nghiệp, ngoại trừ 1 số ngành, cho các nhà đầu tư ngoại quốc. Năm 1990, Luật DNTN được ban hành. Cùng năm, chính phủ VN bắt đầu quá trình “tư nhân hóa” các DNNN.
Với vốn liếng mới có được, nguồn thu từ thuế được san sẻ sang các khu vực kém phát triển hơn qua việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội. Thành quả là tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn giảm đáng kể.
Từ năm 2000-nay, VN đã tìm cách trở thành trung tâm sản xuất hàng xuất khẩu của khu vực. Năng suất không chỉ tăng lên trong các sản phẩm nông nghiệp mà còn cả ở lĩnh vực quần áo & giày dép, cũng như các sản phẩm điện tử & công nghệ cao. Tính đến 2019, kim ngạch Xuất khẩu của VN đạt 300 tỷ $, gấp 4 lần Philippines. Từ 2010-2019, VN đã thu hút được 112 tỷ $ đầu tư trực tiếp của nước ngoài, trong khi Phi chỉ thu được 57 tỷ $.
Làm cách nào mà VN lại trở thành điểm đến ưa thích của các công ty đa quốc gia? Đó là sư kết hợp từ nhiều lý do. Đầu tiên, họ theo đuổi nhiều hiệp định thương mại tự do nhất có thể. Thuế quan được cắt giảm cho cả các hàng nhập khẩu và xuất khẩu. Hiện tại, VN đã có các hiệp định thương mại và FTA với: ASEAN, Hoa Kỳ, WTO, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, CPTPP…
Tiếp theo, chính phủ VN đầu tư rất lớn vào giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khỏe. Chi tiêu cho cơ sở hạ tầng dần dần được tăng lên tới 8% tổng GDP. Gần đây, họ cũng đã đầu tư rất nhiều để hiện đại hóa cho xương sống của nền kỹ thuật số của họ.
Cuối cùng là tạo điều kiện thuật lợi cho sản xuất. Bao gồm: giảm chi phí điện năng (rẻ hơn 43% so với ở Philippines), chế độ chính sách ổn định, phát triển chuỗi cung ứng thượng nguồn & hạ nguồn, và cải thiện cơ sở hạ tầng thương mại như cảng biển và khu chế xuất. Ngoài ra, Luật Đầu tư nước ngoài 1997 cũng được sửa đổi rất nhiều lần để mức ưu đãi tài khóa hiện nay của VN là một trong những nơi hấp dẫn nhất trong khu vực. Nó cũng giúp Việt Nam xích lại gần hơn về mặt địa lý với Trung Quốc và Đông Á.
Nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cao và Philippines sẽ khó bắt kịp nếu không chấp nhận Công nghiệp hóa. Và chúng ta có thể ngày càng bị tụt hậu xa hơn trong cuộc đua phát triển.
Kể từ khi Marcos bị lật đổ, chúng ta đã thất bại trọng việc Công nghiệp hóa hoàn toàn đất nước. Hy vọng rằng chính quyền tiếp theo sẽ có đủ tầm nhìn và ý chí chính trị để hiện thực hóa điều này.
