Không chỉ ở Trung Quốc, thương nhân toàn thế giới thời xưa đều không được coi trọng, tại sao vậy?
1. Yêu cầu của tầng lớp dù thấp kém nhất chính là được sống, muốn sống thì phải ăn, muốn ăn thì phải trồng lương thực. Ở thời con người ăn không đủ no thì mọi việc đều xoay quanh sản xuất lương thực mà ở điểm này thì mọi nơi trên thế giới đều như vậy, mọi người đều lấy nghề nông làm cốt lõi.
2. Tại sao “sĩ” lại được đặt trước “nông”? Bởi vì “sĩ” mặc dù không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng họ lại là “đòn bẩy” cho khả năng sản xuất nông nghiệp. Dù người thuộc tầng lớp “sĩ” không nhiều nhưng họ có thể thông qua sức ảnh hưởng của mình đến phương tiện sản xuất, lực lượng lao động và thành quả lao động mà tạo ra hiệu ứng thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ nhất. Vì vậy, với hiệu quả này, “sĩ” được coi trọng hơn “nông”, cũng vì vậy mà được đặt trước “nông”.
*Sĩ: tầng lớp tri thức
3. “Công” ở thời cổ đại khác với nền công nghiệp ở thời hiện đại. “Công” thời xưa chủ yếu vẫn dựa vào nghề nông, ví dụ như chế tạo nông cụ, vật dụng sinh hoạt…để đảm bảo cuộc sống của nông dân, từ đó thúc đẩy nền nông nghiệp nước nhà. Với điều kiện khoa học kĩ thuật thời ấy thì hiệu ứng thúc đẩy sản xuất của “công” thấp hơn “sĩ” rất nhiều. Xét trên bình quân mỗi người thì “công” thậm chí còn không bằng “nông”, bởi lẽ rất nhiều nông dân vốn dĩ là công nhân, rất nhiều việc đều là tự làm lấy, vì vậy “công” chỉ có thể xếp thứ 3.
4. Địa vị của thương nhân ở thời cổ đại không chỉ không cao mà còn suýt được xếp cùng hàng với tội phạm:
4.1. “Thương” là lưu thông (hàng hoá, tiền tệ), không phải sản xuất. Ở thời mà năng lực sản xuất còn kém, chủ yếu là tự cung tự cấp thì việc lưu thông hàng hoá rõ ràng là không cần thiết.
4.2. Vận chuyển hàng hoá không chỉ không quan trọng mà còn gây ra việc phân luồng lực lượng lao động. Vốn dĩ nông dân đã không đủ mà lại có một số người không trồng trọt, chạy đi chạy lại để kinh doanh, việc này chắc chắn là không được.
4.3. “Thương”, nói trắng ra thì chính là mua rẻ bán đắt, năng lực cốt lõi của thương nhân chính là “tính toán”, vì vậy mới bị gọi là “gian thương”. Mà mua lại không rõ ràng như bán, ở thời cổ đại – nơi mà không có quy tắc quản lí thị trường thì rất nhiều thương nhân bị coi là kẻ lừa đảo.
4.4. “Thương” cần phải di chuyển, không giống như nông dân cả đời phải ở lại thôn xóm của mình. Điều này càng làm tăng thêm sự bất ổn trong xã hội. Mà thương nhân thời cổ đại có rất nhiều người biết võ công, làm ăn phát đạt thì phải thuê người bảo vệ, làm ăn lớn hơn nữa thì phải thuê cả thương đội được trang bị vũ khí, phải thường xuyên kiểm tra năng lực chiến đấu của thương đội, thậm chí còn không hề kém quân đội chính quy. Triều đình không thể nhắm mắt làm ngơ nhưng nếu làm lớn chuyện thì lại không có đủ năng lực để lo liệu, vì vậy chỉ có thể đưa ra chính sách áp chế thương nhân.
4.5. Tốc độ tích luỹ tài sản của thương nhân vượt xa sĩ, nông, công; bởi vậy điều này sẽ thúc giục mọi người lao vào rủi ro, mà một khi đã để yên thì sẽ dẫn đến việc tiền “bẩn” lấn át tiền “sạch”, mọi người khi đó sẽ đều làm kinh doanh kiếm tiền, sẽ không còn ai trồng trọt nữa. Kiếm được tiền thì sẽ cấu kết với quan lại, khi đó cả đất nước sẽ đối mặt với sự sụp đổ.
4.6. Thuế thời xưa đều là hiện vật, trồng cây thì nộp cây, đánh cá thì giao cá… Cơ chế thu thuế bằng tiền tệ có phần lạc hậu và kĩ năng quản lí thuế cũng chưa ổn nên cho đến thời của Trương Cư Chính phụ chính thì luôn không có cách nào để thu thuế bằng tiền tệ. Nhà Tống là một ví dụ điển hình, thương nhân có nhiều dầu mỏ nhưng ngân khố nhà nước lại luôn thiếu.
4.7. Việc mua bán của thương nhân dẫn đến việc bọn họ có chút xem trọng lợi ích, coi nhẹ nghĩa tình. Có những khi đất nước gặp thiên tai thì thương nhân bắt đầu tích luỹ tài sản, sau đó tăng giá sản phẩm để trục lợi trong lúc này. Cũng có một số người không hề có khái niệm về quốc gia của mình mà thông đồng với địch bán nước, làm cướp biển, làm gián điệp…
Với những điều trên thì “thương” ở thời cổ đại luôn là đối tượng bị triều đình chèn ép. Thương nghiệp thực sự chiếm thế thượng phong có lẽ là sau cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, thêm vào đó là các cuộc phát kiến địa lý, khiến cho năng lực sản xuất của nền nông nghiệp được cải thiện mạnh mẽ. Một số lao động trở thành công nhân, từng bước đẩy mạnh hiệu quả sản xuất. Khi sản xuất có sự dư thừa thì bắt đầu chuyển từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu thông (hàng hoá). Và chỉ có như vậy, thương nghiệp mới dần được coi trọng.

hay nè