Đây không phải là câu chuyện của tôi; nó của là con gái tôi. Tên con bé là Theresa. Con bé đã chết cách đây hai tuần, là một vụ tự tử do dùng thuốc quá liều. Con bé đã gọi cho tôi ngay trước khi làm điều đó, thông báo cho tôi về ý định của nó và lý do đằng sau chúng. Tất nhiên tôi cam đoan với con bé, cầu xin con bé trong nước mắt rằng đừng làm theo những gì nó đã lên kế hoạch. Nhưng con bé đã kiên quyết trong lựa chọn của chính mình, và cùng sự kinh hoàng tăng vọt, tôi nhận ra rằng đây không phải là trò lừa bịp, không phải là một tiếng kêu tuyệt vọng để có được sự chú ý hay trấn an. Khi con bé cúp máy, tôi biết chắc chắn rằng con bé thực sự sẽ chết. Tôi biết điều đó ngay từ khi con bé nói, “Bố ơi, Ray đến rồi.”
Tôi ngay lập tức gọi điện cho cảnh sát, và biết được rằng họ sẽ có thể tiếp cận con bé trước khi tôi có thể. Nhưng tôi cũng biết họ cũng sẽ muộn. Họ tìm thấy con bé trên giường, mọi thứ hiển hiện như thể nó đang trong một giấc ngủ sâu và yên bình, một tay đặt ngang bụng, tay kia dang sang một bên, lòng bàn tay úp xuống, các ngón cuộn tròn tựa như đang nắm chặt thứ gì đó – có lẽ là một bàn tay khác – nhưng là bên kia giường – chỗ của Ray – trống rỗng.
Đây cũng là câu chuyện của Ray. Thằng bé đã chết hơn một năm trước khi Theresa cũng vậy. Thằng bé bị bắn hai lần, một lần xuyên qua bàn tay phải mà nó đã cố gắng phòng thủ, viên đạn xuyên qua cả điện thoại di động và lòng bàn tay nó trước khi kịp trú vào ngói của bức tường trong phòng tắm, nơi thằng bé đã cố lẩn trốn đến cùng. Viên đạn thứ hai được tìm thấy xuyên qua cổ và thằng bé nhanh chóng đổ máu, một mình nằm trên sàn nhà buốt lạnh. Thằng bé là một trong chín người chết tại tòa nhà văn phòng của mình ngày hôm ấy. Tám người trong số họ đã nghĩ rằng đó chỉ là một ngày thứ Hai bình thường ở nơi làm việc, mà chẳng hay biết rằng họ sẽ không còn sống vào cuối ngày. Người chết thứ chín – kẻ nã súng – không hề có ý định bước ra ngoài lần nữa.
Ray đã gọi điện cho Theresa vào bữa trưa của thằng bé vào ngày hôm đó. Con bé đang ở nhà, cảnh tượng tên của Ray hiện trên điện thoại và gây ồn ào khiến nó mỉm cười. Mới kết hôn được ba tháng, cặp đôi vẫn còn trong giai đoạn trăng mật ngắn ngủi của cuộc hôn nhân, và Ray thường tìm mọi lý do để gọi điện cho cô dâu của mình từ chỗ làm nếu thời gian cho phép.
“Xin chào?” con bé trả lời, một nụ cười hiện lên trong giọng nói của nó.
“Tại sao người đàn ông đó luôn bị xe đạp tông trên đường đi làm?” Ray nói.
“Em không biết,” Theresa trả lời. “Tại sao vậy anh?”
“Bởi vì anh ta bị mắc kẹt trong một vòng luẩn quẩn,” Ray đáp.
Theresa cười khúc khích. Câu đùa cợt không thực sự hài hước đến thế, nhưng Ray luôn thích thú với sự khôi hài ngô nghê, và niềm vui khi kể những mẩu chuyện cười dở tệ này, thứ mang lại cho Theresa niềm vui hơn cả chính câu chuyện cười ấy. Cụ thể hơn thì thằng bé đã dùng vài câu thả thính như vậy để chiếm được tình cảm của con gái tôi ngay từ những ngày đầu tiên. “Cảm nhận chiếc áo của anh này,” nó đã nói với con bé, như một kẻ lạ lạc lõng giữa biển người chen chúc trong căn hộ của bạn gái con bé hai năm trước. “Em có biết nó làm bằng gì không? Chất liệu ‘bạn trai’ đấy.”
Theresa đã cười thành tiếng. Thứ nhất, bởi vì câu thả thính đó thực sự rất buồn cười. Và thứ hai, bởi vì Ray, cao ráo và hấp dẫn một cách ngốc nghếch, đã rất vui vẻ khi xài kiểu đó để tán cho con bé, phải nói nụ cười của Ray rất dễ lây lan và ngay lập tức thằng bé được yêu mến. Dù cho câu thả thính hơi dở tệ, nhưng nó đã hiệu quả. Hai đứa đã ở bên nhau kể từ đó.
“Ngày của anh thế nào?” Theresa hỏi, ngồi xuống bàn bếp.
“Như đang sống trong mơ vậy,” Ray đáp lại bằng giọng hơi chút mỉa mai. “Thực ra, buổi thuyết trình của anh đã diễn ra tốt đẹp vào sáng nay. Anh phải trình bày nó một lần nữa với các nhân viên cấp cao vào thứ Tư. Mọi thứ đang có vẻ hứa hẹn.”
“Đó hẳn là một tin tuyệt vời,” Theresa đáp.
“Thực sự là như vậy,” Ray nói, giọng hài lòng.
“Anh biết đấy, nếu đề xuất này được thông qua, chúng ta nên ăn mừng. Hãy cùng đi đâu đó.”
Có một khoảng dừng ở phía Ray. “Nghe có vẻ là một ý tưởng tuyệt vời,” thằng bé đáp lại, chỉ là bây giờ thằng bé có vẻ hơi mất tập trung. “Em nghĩ ra chỗ nào trong đầu chưa?”
“Em không biết,” Theresa nói, suy nghĩ. “Sheryl có căn nhà gỗ mà cô ấy nói rằng chúng ta luôn được hoan nghênh sử dụng. Chúng ta nên đến chỗ cổ vào một lúc nào đó. Cổ và Brad có thể sẽ bán nó đi trước khi mình kịp sử dụng. Sẽ rất tuyệt đấy.”
Ray không trả lời.
“Anh yêu?” Theresa nói.
Chần chừ một lúc. “Em…có nghe thấy không?” Ray hỏi.
“Nghe gì cơ?” Theresa nói. Nhưng thằng bé chưa kịp đáp lại thì con bé đã nghe thấy. Một tiếng súng lớn, một tiếng nổ từ xa, lan qua điện thoại. “Ray, cái gì vậy?”
“Anh không biết,” thằng bé nói, và từ âm thanh của giọng nói, thằng bé đang bước đi. Giọng thằng bé có vẻ run rẩy.
“Ray?”
Có một tiếng súng lớn thứ hai, vẫn còn xa nhưng gần hơn, và Theresa cảm thấy tay mình lạnh đi khi con bé nghĩ rằng nó đã nghe thấy một người phụ nữ hét lên.
“Anh sẽ tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra,” Ray nói. “Anh sẽ gọi lại cho em.”
“Ray—” Theresa nói, nhưng thằng bé đã biến mất.
Con bé đặt điện thoại xuống bàn và nhìn chằm chằm vào màn hình đen của nó. Con bé đột ngột đứng dậy khỏi bàn bếp, đi đến bồn rửa, và đặt xuống một cốc nước vừa được đổ đầy. Nhìn chằm chằm vào điện thoại, con bé muốn nó đổ chuông một lần nữa, hiển thị tên của Ray. Nhưng nó đã không xảy ra.
Theresa nhanh chóng cầm điện thoại lên. Con bé gọi vào điện thoại của Ray. Nó được chuyển đến thư thoại. Con bé gọi vào điện thoại bàn của Ray. Nó cũng được chuyển đến thư thoại. Con bé gọi lễ tân tại văn phòng của Ray. Không có tín hiệu trả lời. Con bé đập mạnh điện thoại xuống bàn, tay run run. Con bé cảm thấy khó thở, để không thể tưởng tượng ra điều tồi tệ nhất, để thuyết phục bản thân rằng những gì nó đã nghe không có nghĩa là những gì nó nghĩ.
Một lúc sau, điện thoại của con bé đổ chuông. Con bé giật lấy nó. “Ray?” con bé lên tiếng.
“Em yêu,” Ray nói, thì thầm, giọng điệu khẩn thiết. “Có một người đàn ông với một khẩu súng.”
Theresa ngồi xuống ghế. “Anh đang ở đâu?” nó hỏi, không nhận ra mình đang thì thầm.
“Anh đang ở trong phòng tắm dưới hành lang từ văn phòng của anh. Reese, gã đó đã giết Mark. Anh đã thấy điều đó xảy ra.” Giọng thằng bé run run, có thể do nước mắt hoặc hoảng sợ.
“Ray, dập máy và gọi cảnh sát đi,” con bé nói.
“Anh đã làm,” Ray nhấn mạnh. “Họ đang trên đường đến.”
“Được rồi,” Theresa nói. “Cứ bình tĩnh.” Con bé nói điều này với chính mình nhiều như khi nó nói với Ray. “Hắn ta đang ở đâu?” con bé hỏi.
“Anh không biết,” thằng bé đáp. “Anh nhìn thấy hắn ta ở cuối hành lang. Anh đã thấy gã đó bắn Mark. Anh đã chạy vào đây vì đó là cửa gần nhất. Anh không biết hắn ta có nhìn thấy mình không.”
“Anh khóa cửa chưa?” con bé hỏi.
“Cửa không khóa,” Ray nói, giọng nấc nhẹ. “Anh đang ở một trong những quầy hàng. Nó bị khóa.”
Theresa bắt đầu im lặng khóc, chìm trong sự vô vọng về tình hình của Ray.
“Gã đó là ai vậy?” con bé hỏi.
“Anh không biết. Hắn ta đeo một chiếc mặt nạ. Một chiếc mặt nạ trượt tuyết. Anh nghĩ hắn ta ——”
Ray đột ngột ngừng nói khi nghe một tiếng nổ lớn, tiến gần đến đầy lo ngại. Thằng bé do dự và hít một hơi dài, run rẩy.
“Anh yêu em, Reese,” thằng bé thì thầm, giọng Ray lúc này thậm chí còn trầm hơn, hầu như không nghe thấy.
“Không,” Theresa phản đối, và con bé đã trượt từ ghế xuống sàn bếp, áp chặt điện thoại vào tai.
Có một tiếng nổ khác, nhưng lần này không phải là tiếng súng. Đó là âm thanh của một cánh cửa bị mở tung, va đập vào tường. Ray đột ngột thở hổn hển.
“Ray?” Theresa thì thầm.
BANG. Tiếng cửa phòng tắm bị hất tung.
“Không!” Ray hét lên, và âm thanh tuyệt vọng của thằng bé khiến toàn bộ cơ thể Theresa tê liệt.
“Ray?” Theresa nói, to hơn.
BANG. Tiếng sập cửa quầy hàng.
“Không!” Ray hét lên.
“Ray?” Theresa hét lên.
BANG. Tiếng súng.
Và sau đó, mọi thứ trong ngôi nhà trở nên im lặng chỉ vài giây khi Theresa cố gắng lấy hơi. Cuối cùng, con bé đã hét lên.
Kẻ xả súng là một gã đàn ông tên là Vincent Holland. Hắn ta từng làm việc trong bộ phận Kỹ thuật, chỉ cách văn phòng của Ray với bộ phận Tiếp Thị tầng dưới. Một nhân viên sách giáo khoa chống chọi với các vấn đề trầm cảm: ít nhất, đó là câu chuyện mà báo chí đã đưa tin. Vincent đã giết tám đồng nghiệp của mình, và sau đó đã nổ sung tự s.á.t ngay khi tiếng còi báo động đầu tiên đến gần.
24 giờ sau là một khoảng thời gian mờ mịt đối với Theresa. Qua cơn choáng váng, con bé đã phải trả lời các câu hỏi của cảnh sát, xác định thi thể của chồng mình, khuôn mặt tái nhợt chẳng thể nhầm lẫn được của Ray, và đã gọi những cuộc điện thoại cần thiết cho bạn bè và gia đình. Giữa những khoảnh khắc đó, Theresa đã khóc, cơ thể con bé bị nghiền nát dưới sức nặng của nỗi đau gần như chẳng thể chịu đựng nổi, nỗi đau thể xác đủ để khiến con bé “chào đón” vài ý nghĩ rằng có lẽ chúng sẽ giết chết mình. Thật là một sự thương xót, con bé nghĩ.
Vào đêm sau cái chết của Ray, Theresa đã ngủ một giấc thật sâu bằng thuốc mê, cơ thể con bé không chống chọi nổi với bất kỳ loại cocktail nào mà người bạn thân nhất của nó – Sheryl nhất quyết đem đến. Theresa đã không hỏi – thậm chí không quan tâm – những viên thuốc đó là gì, nhưng đã uống hết chúng và nhanh chóng chìm vào “vòng tay ấm áp” của giấc ngủ, nơi mà nỗi đau của con bé, ít nhất trong một thời gian ngắn, không thể chạm tới nó.
Khi tỉnh dậy vào ngày hôm sau, con bé thoáng tự hỏi tại sao ngực mình lại đau dữ dội như vậy. Chỉ mất một lúc để Theresa nhớ lại, và những giọt nước mắt ngay lập tức tuôn rơi. Con bé lăn qua lăn lại, đặt lòng bàn tay lên thành giường của Ray, nơi chỉ có tấm đệm lạnh và sự trống rỗng. Đằng sau tiếng khóc, con bé có thể nghe thấy giọng nói ở hành lang: Sheryl và mẹ của Theresa đang nói với giọng trầm buồn. Theresa nhìn đồng hồ. Đã được khoảng thời gian ngắn sau trưa. Thuốc ngủ của Sheryl đã khiến con bé ngủ hơn mười một giờ.
Theresa ngồi dậy trên giường và lau những giọt nước mắt trên má, ý thức nén nỗi buồn xuống sâu trong dạ dày. Con bé cầm lấy điện thoại di động của mình trên tủ đầu giường, có lẽ theo thói quen hơn là cần thiết, rồi đi về phía phòng tắm, bật công tắc. Ánh sáng tấn công đôi mắt Theresa, và trong một khoảnh khắc, con bé trông thấy hình ảnh phản chiếu đáng thương của chính mình: mắt sưng húp, má cũng sưng phồng cùng chiếc mũi đỏ ửng. Con bé hít vào một hơi dài và run rẩy.
Ngay sau đó, điện thoại của con bé rung lên trong tay khiến nó giật bắn mình. Màn hình hiển thị: RAY.
Theresa nhìn chằm chằm vào nó, một sự pha trộn giữa hoài nghi và bối rối len lỏi trong tâm trí.
Con bé đã trả lời nó. “Xin chào?” Giọng con bé gần như không thành tiếng.
“Tại sao người đàn ông đó luôn bị xe đạp tông trên đường đi làm?” Ray nói.
Theresa cố gắng lấy một hơi, và khi cuối cùng con bé đã có thể, giọng nói phát ra trong một tiếng thở hổn hển. Con bé vô tình bước ra khỏi gương, như thể đang rút lui khỏi những gì nó đang nghe thấy. Tâm trí con bé quay cuồng khi nó cảm thấy một tia hy vọng đột ngột chống lại nỗi buồn dai dẳng của mình, và con bé tự hỏi, có lẽ những sự kiện ngày hôm qua chẳng là gì khác ngoài một giấc mơ lạ thường.
“Bởi vì anh ta đã bị mắc kẹt trong một vòng luẩn quẩn,” Ray kết luận.
“Ray?” Theresa nói.
“Sao vậy! Em yêu?” Thằng bé phản ứng lại. “Có chuyện gì vậy? Câu đùa cũng không hẳn tệ lắm mà.”
“Ray, anh đang ở đâu?” con bé hỏi.
“Anh đang làm việc,” thằng bé nói với một nụ cười nhẹ. “Vừa mới ra khỏi một cuộc họp. Buổi thuyết trình của anh đã diễn ra tốt đẹp vào sáng nay. Anh phải trình bày nó một lần nữa với các nhân viên cấp cao vào thứ Tư. Mọi thứ đang có vẻ hứa hẹn.”
Theresa không trả lời.
“Reese, em có sao không?” Ray hỏi.
Theresa nhìn mình trong gương, với chiếc mặt nạ hệt như Halloween đầy đau buồn của mình. Sàn nhà có vẻ đang nghiêng ngả dưới chân con bé, và bộ não của con bé, vẫn còn sót lại những viên thuốc Sheryl đã đưa, tựa một vũng lầy chứa đầy những suy nghĩ trái ngược nhau.
“Reese?” thằng bé nói lại.
“Hôm nay là thứ mấy?” con bé hỏi.
“Sao cơ? Hôm nay là thứ Hai,” Ray nói. “Chuyện gì vậy? Có chuyện gì vậy?”
“Là thứ Ba,” con bé đáp.
“Không phải ——” Ray bắt đầu, nhưng rồi thằng bé dừng lại. Hai đầu điện thoại im lặng trong giây lát. Sau đó Ray nói, “Em có nghe thấy nó không?”
“Nghe gì cơ?” con bé hỏi. Sau đó, con bé nghe thấy nó, và một cảm giác déjà vu đầy buồn nôn của tràn qua họng. Có một tiếng súng lớn, một tiếng nổ từ xa, lan qua điện thoại.
“Đó là cái gì vậy?” Ray nói, và từ âm thanh giọng nói của mình, thằng bé đang bước đi.
“Ray, chờ đã,” Theresa nói.
Có một tiếng súng lớn khác, vẫn ở xa nhưng gần hơn, và Theresa nghe thấy một người phụ nữ hét lên.
“Anh sẽ tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra,” Ray nói. ” Anh sẽ gọi lại cho em.”
“Đừng!” Theresa nói, nhưng Ray đã biến mất.
Theresa đặt điện thoại xuống bồn tắm và nhìn chằm chằm xuống nó, mái tóc rũ rượi trước mắt cô. Con bé lắc đầu dữ dội, cố gắng gỡ bỏ sự bối rối khiến nó khó tập trung. Con bé lướt các ngón tay của mình qua mái tóc và sau đó kéo chúng một cách bực bội.
Con bé nhấc điện thoại lên và gọi vào di động của Ray. Thư thoại. Con bé gọi vào điện thoại bàn của Ray. Thư thoại. Con bé gọi lễ tân tại văn phòng của Ray. Tin nhắn gửi đi cho nó biết rằng, vì những sự kiện bi thảm ngày hôm qua, văn phòng sẽ đóng cửa trong thời gian còn lại của tuần. Theresa nhíu mày và đặt điện thoại xuống bồn rửa mặt một lần nữa.
Vài giây sau, nó lại vang lên. Màn hình hiển thị: RAY.
Con bé trả lời mà không nói bất cứ điều gì.
“Reese?” Ray nói, giọng thì thào đầy hoảng sợ. “Hãy nghe anh này. Có một gã đàn ông có súng.”
Theresa bắt đầu nức nở, và tay con bé run rẩy dữ dội đến mức con bé gần như không thể cầm điện thoại áp vào tai.
“Anh đang ở trong phòng tắm dưới hành lang từ văn phòng của mình. Em yêu à, gã đó đã giết Mark. Anh đã thấy điều đó xảy ra.” Giọng Ray run rẩy, sắp rơi lệ.
Theresa không nói gì.
“Anh đã gọi cảnh sát,” Ray tiếp tục. “Họ đang trên đường đến.” Thằng bé hít một hơi dài và run rẩy.
Theresa ngồi xuống sàn và khum gối lên trước ngực. Con bé bắt đầu lắc lư qua lại.
“Anh không biết bây giờ gã đó ở đâu”, Ray nói. “Anh nhìn thấy hắn ta ở cuối hành lang. Anh thấy hắn ta bắn Mark. Anh đã chạy vào đây vì đó là cửa gần nhất. Anh không biết hắn ta có nhìn thấy mình không. Nhưng cửa không khóa. Anh đang ở một trong những quầy hàng. “
Có một khoảng thời gian dài im lặng.
“Reese, nói chuyện với anh đi,” Ray tuyệt vọng cầu xin.
“Ray,” con bé gọi trong tiếng nức nở. Con bé không thể nói nhiều hơn thế.
“Anh không biết gã này là ai,” Ray nói. “Hắn ta đang đeo mặt nạ. Một chiếc mặt nạ trượt tuyết. Anh nghĩ hắn– “
Nhưng Ray đột ngột ngừng nói khi nghe một tiếng nổ lớn, tiến gần đến đầy lo ngại. Thằng bé do dự và hít một hơi dài, run rẩy.
“Anh yêu em, Reese,” Ray thì thầm.
Qua điện thoại, Theresa nghe thấy tiếng cửa bị mở tung và va vào tường. Ray thở hổn hển. Theresa hồi tưởng lại âm thanh cánh cửa phòng tắm bị mở tung, âm thanh phản đối tuyệt vọng của Ray, và tiếp đến là âm thanh cuối cùng của khẩu súng được bắn.
Sau đó, trong sự im lặng, Theresa hồi tưởng lại sự đau buồn về cái chết của chồng con bé lần thứ hai.
Con bé không nói với ai về cuộc gọi. Không phải Sheryl, và không phải mẹ nó. Con bé không thể giải thích điều đó với chính mình, càng không thể giải thích cho bất kỳ ai khác. Cả hai đã tiếp tục bầu bạn với con bé suốt cả ngày, trả lời các cuộc điện thoại, giao dịch với những người tốt có liên quan, cố gắng đưa Theresa đi ăn, và quản lý cẩn thận lễ viếng và đám tang của Ray, được lên lịch vào tối thứ bảy và tương tự vào sáng chủ nhật. Nhưng quan trọng, hai người họ ở đó chỉ đơn giản là để đảm bảo rằng Theresa không đơn độc. Sau giây phút tỉnh dậy của nó, họ coi con bé như một con búp bê sứ cổ, mỏng manh và dễ vỡ.
Theresa đã ngủ gần như cả ngày, ngay cả khi không có sự trợ giúp của vài loại hóa chất từ Sheryl. Con bé hầu như chẳng ăn gì cả, một sự thật khiến mẹ nó đau lòng.
Con bé vẫn nằm trên giường vào buổi trưa ngày hôm sau, thứ Tư, hai ngày sau khi Ray qua đời, thì bỗng, điện thoại di động của nó đổ chuông.
Màn hình hiển thị: RAY.
Cơ thể Theresa tê dại và con bé bắt đầu lặng lẽ khóc. Con bé đã trả lời nó. “Ray?” Theresa nói nhỏ.
“Tại sao người đàn ông đó luôn bị xe đạp tông trên đường đi làm?” Ray nói.
Theresa kết thúc cuộc gọi ngay lập tức, sau đó tắt hoàn toàn điện thoại, ném nó sang một bên. Con bé nằm trên giường và khóc.
Vào ngày thứ ba, là thứ Năm, Theresa ở trong nhà một mình. Sheryl và mẹ nó có những việc khác cần phải giải quyết và con bé đã không ra ngoài nhà kể từ tối thứ Hai. Theresa đã tắm, chải tóc và thậm chí trang điểm một chút. Cánh tay con bé yếu ớt và nặng nề khi con bé làm điều đó. Nhưng con bé đã cố gắng nở một nụ cười mệt mỏi khi nó khăng khăng rằng mình sẽ ổn nếu mẹ và người bạn thân nhất của nó để nó một mình trong một thời gian ngắn.
Khi điện thoại di động của con bé đổ chuông ngay sau trưa, Theresa đang ngồi ở bàn bếp, ánh nắng chói chang xuyên qua cửa sổ khiến đầu con bé đau nhức sau bao nhiêu thời gian chìm trong bóng tối trong phòng ngủ.
Con bé trả lời, giọng yếu ớt: “Bởi vì anh ấy đã bị mắc kẹt trong một vòng luẩn quẩn.”
Đầu dây bên kia im lặng, và trong giây lát Theresa tự hỏi liệu Ray có thực sự ở đó không.
Cuối cùng, Ray cười và hỏi: “Làm thế nào mà em biết được điều đó?”
“Em không chắc nữa,” con bé nói.
“Em có ổn không?” Ray hỏi. “Em có vẻ hơi lạ.”
Theresa hít thở sâu. “Anh có biết Vincent Holland là ai không?” con bé hỏi.
“Có, anh ta làm việc trong ngành Kỹ thuật, anh nghĩ vậy. Anh không biết rõ về anh ấy lắm. Anh biết rằng mỗi ngày vào bữa trưa, anh ta sẽ ăn một củ hành tây giống như một quả táo. Anh chưa bao giờ thấy bất cứ thứ gì giống như vậy.”
“Ray, anh ta có súng,” Theresa nói.
“Cái gì? Làm sao em biết?”
“Đừng hỏi em điều đó bây giờ,” con bé trả lời. “Hắn ta có một khẩu súng và hắn ta sẽ bắt đầu bắn mọi người. Anh cần phải ra ngoài.”
“Reese, anh không—” Nhưng rồi Ray dừng lại khi cả hai nghe thấy tiếng sung bắn. “Đó là cái gì vậy?”
“Hãy nghe em,” Theresa nói. “Anh phải ra khỏi tòa nhà ngay.”
Ray im lặng trong giây lát. Sau đó thằng bé đáp, “Được rồi. Được rồi. Anh đi đây.” Và, điện thoại im bặt.
Theresa đặt điện thoại lên bàn và nhìn chằm chằm vào nó. Đám bụi bẩn âm thầm len qua tia nắng xuyên khung cửa sổ và hạ cánh, mang theo hơi ấm đọng trên mu bàn tay con bé. Con bé tự hỏi làm thế nào mặt trời tiếp tục chiếu sáng, như thể cả thế giới không bị bao trùm trong đau buồn giống nó vậy.
Điện thoại của con né lại đổ chuông. Ray.
Con bé đã trả lời. “Anh yêu?”
“Anh đã nhìn thấy gã đó” Ray thì thầm.
“Anh đang ở đâu?” Con bé hỏi.
“Anh đang ở trong phòng tắm dưới hành lang từ văn phòng của anh. Em yêu, gã đó đã giết Mark.”
Theresa kết thúc cuộc gọi và đập mạnh điện thoại xuống bàn. Con bé lấy tay che mắt và khóc.
Thứ sáu, ngay sau trưa, Theresa ngồi vào bàn bếp với Sheryl và mẹ con bé. Ba người họ đang lặng lẽ thưởng thức tách trà, quầy bếp và hầu hết mọi mặt phẳng đều được lấp đầy bởi giỏ quà và hoa. Mẹ của Theresa và Sheryl nói chuyện nhỏ nhẹ trong khi Theresa ngồi im lặng, đôi mắt chăm chú vào chiếc điện thoại của mình, chiếc điện thoại đang nằm im như một phiến đá trống trên bàn trước mặt con bé.
12:03 đến và đi mà không có một cuộc gọi. Theresa cười thầm một mình. Con bé đã cố tình đảm bảo rằng mình không đơn độc vì cuộc điện thoại hôm nay của Ray. Nếu thằng bé gọi lại, lần này Theresa muốn có nhân chứng. Nhưng một phần con bé biết rằng Ray sẽ không gọi cho nó nếu nó không ở một mình.
“Mọi thứ ổn chứ, Reese?” Sheryl hỏi.
Theresa rời mắt khỏi chiếc điện thoại im lặng. “Vâng,” con bé thì thầm và nhấp một ngụm trà.
Tôi đã bay khắp đất nước đến lễ viếng và đám tang của Ray. Mẹ của Theresa và tôi vẫn thân thiết với nhau, nhưng cũng tránh nhau nhiều nhất vì lợi ích của Theresa. Tôi đã bị sốc với vẻ ngoài của con bé – tất nhiên là mệt mỏi, hốc hác và đau buồn, nhưng cũng rối trí như cái cách chẳng giống một cái tang đơn giản. Tôi đã ôm chặt con bé nhiều lần trong suốt hai ngày, lúc nào cũng không nói nên lời, giá như trên đời này tôi có thể làm được gì đó để trút bỏ gánh nặng phiền muộn đè lên vai con bé.
Sau đó, Theresa nói với tôi rằng con bé đã giấu điện thoại của mình trong hai ngày hoạt động đám tang. Con bé đã nghĩ rằng mình có thể trải qua buổi lễ tưởng nhớ cuộc đời của Ray, nhìn thấy khuôn mặt thanh thản của thằng bé khi nó nằm an nghỉ trong quan tài của mình, và sau đó nhìn với sự chia li đáng ngạc nhiên khi thi thể Ray được hạ xuống đất, điều sẽ là kết thúc cuối cùng cho những cuộc gọi hàng ngày từ Ray.
Nhưng vào thứ Hai, khi Theresa ở nhà một mình lần thứ hai trong tuần kể từ khi Ray qua đời, điện thoại của con bé lại đổ chuông. Con bé dường như không muốn trả lời, nhưng chẳng thể cưỡng lại được, cảm giác vừa khao khát vừa vô vọng bật tung trong lồng ngực.
“Ray?” Con bé nói.
“Tại sao người đàn ông đó luôn bị xe đạp tông trên đường đi làm?” Ray nói, và Theresa bật khóc.
Trong nhiều ngày tiếp theo, Theresa sống trong mù mịt. Con bé luôn nhận được cuộc gọi của Ray. Có những ngày, con bé để cuộc trò chuyện diễn ra như lần đầu tiên, tận hưởng những giây phút đầu thoáng qua khi Ray vẫn còn vui vẻ và sống. Những ngày khác, con bé cắt ngang câu nói đùa của Ray để hỏi thằng bé một câu hỏi, chẳng hạn như Ray đã để chìa khóa vào két an toàn ở đâu, hay nơi thằng bé đã nộp giấy tờ bảo hiểm. Tuy bối rối nhưng vẫn hợp tác, Ray luôn trả lời những câu hỏi của con bé. Có những ngày Theresa đã dùng giây phút ban đầu đó để gửi gắm tình yêu sâu sắc của mình dành cho Ray, và con bé đã khóc nức nở khi Ray bày tỏ tình yêu của mình dành cho nó. Nhưng sau đó, tất cả quá nhanh, tiếng súng sẽ khiến cuộc trò chuyện của hai đứa kết thúc đột ngột.
Và rồi một ngày, nhiều tuần trôi qua, điện thoại đổ chuông và Theresa nói, “Xin chào, anh yêu” và đợi Ray bắt đầu trò đùa trên xe đạp của mình.
Một khoảng lặng ở đó, và Ray đã nói, “Reese … đã, liệu anh có gọi cho em sớm hơn vào hôm nay không?”
Một sự lạnh lẽo lan tỏa trong lồng ngực của Theresa mà con bé không thể hiểu nổi. “Cái gì? Không, anh không có.”
“Thật kỳ lạ,” Ray nói. “Anh nhấc máy gọi cho em và đột nhiên có cảm giác déjà vu. Giống như hôm nay anh đã gọi cho em.”
Một giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống má Theresa. Con bé không thể tìm cất thành tiếng.
“Mọi chuyện ổn chứ?” Ray hỏi.
“Em nhớ anh, anh yêu,” con bé thì thầm.
Ray cười khúc khích. “Anh cũng nhớ em?” Thằng bê trả lời, giống như một câu hỏi hơn là một tuyên bố. “Anh sẽ gặp lại em sau vài giờ.”
“Không, anh sẽ không,” con bé nói.
“Reese, cái gì ——” và sau đó thằng bé dừng lại. “Em có nghe thấy không?”
Theresa cúp điện thoại. Suy nghĩ của con bé khuấy động với sự bối rối và một cảm giác hy vọng kỳ lạ. Mọi cuộc trò chuyện trước đây đều mang nặng cảm giác không thể tránh khỏi; bất kể Theresa có nói gì với thằng bé, Ray sẽ luôn chết trên sàn phòng tắm văn phòng của mình. Nhưng hôm nay, hôm nay thằng bé dường như đã nhớ ra điều gì đó, và cuộc trò chuyện của họ đã diễn ra theo một hướng khác, theo hướng của Ray. Và Theresa bắt đầu tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu con bé cố gắng thúc đẩy hơn nữa, nỗ lực nhiều hơn để khiến Ray thực hiện hành động theo hướng khác.
Ngày hôm sau khi Ray gọi, Theresa ngay lập tức điều khiển cuộc trò chuyện. “Ray, em cần anh lắng nghe em một cách cẩn thận và trả lời em nhanh nhất có thể. Có bao nhiêu cách khác nhau để ra khỏi văn phòng của anh? Ý em là ra khỏi bộ phận của anh.”
“Gì?” Thằng bé nói.
“Trả lời em đi!” Con bé nhấn mạnh.
“Có cửa chính. Đi thẳng qua phòng CNTT, và bên trái sẽ đưa anh xuống hành lang chính. Có một cánh cửa thứ hai đi qua phòng Nhân sự, nhưng nó chỉ gặp hành lang chính ở đầu kia. Và sau đó có cửa ra ban công. Tại sao em lại hỏi anh điều này? “
“Lấy chìa khóa của anh. Đừng lấy bất cứ thứ gì khác,” Theresa nhấn mạnh. “Đi qua bộ phận IT. Đừng đi xuống sảnh. Hãy lên xe và về nhà ngay.”
Có một khoảng lặng, và sau đó Ray nói, “Được rồi. Được rồi, anh đến đây.” Và đường dây đã đứt đoạn.
Theresa thấy mình hụt hơi trong khi chờ đợi. Con bé bước đi. Một lúc sau, điện thoại của con bé lại vang lên.
“Reese? Nghe anh này. Có một gã đàn ông có súng.”
Theresa hét lên thất vọng và ném điện thoại của mình qua phòng, nơi nó rơi xuống thảm và trượt trên sàn.
Lần sau khi thằng bé gọi, Theresa hỏi, “Ray, ban công bên ngoài phòng làm việc của anh. Nó có bậc thang đi xuống sân trong không?”
“Có,” Ray nói. “Tại sao em hỏi vậy”
“Và ann có thể đến bãi đậu xe từ đó?”
“Ừ. Chuyện gì vậy?”
“Đi,” Theresa nhấn mạnh. “Đừng hỏi em bất cứ điều gì. Chỉ cần đi ra ngoài cửa ban công và đến xe của anh. Làm ngay bây giờ. Về nhà.”
“Mọi chuyện ổn chứ?” Thằng bé hỏi.
“Đi!” Con bé hét lên, và cúp điện thoại.
Một phút trôi qua, rồi hai phút. Theresa gần như không thở được khi con bé nhìn chằm chằm vào điện thoại của mình. Năm phút trôi qua mà không có cuộc gọi từ Ray. Cuối cùng con bé đã có thể hít thở.
Theresa đã ở trên giường của mình. Lưng con bé đau nhức khi nó ngồi cúi đầu trước điện thoại. Lần đầu tiên kể từ ngày thằng bé qua đời, không có cuộc điện thoại thứ hai nào, và Theresa không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Con bé đang chìm trong cơn choáng váng gần như không suy nghĩ khi nghe thấy tiếng cửa trước mở. Con bé nhảy dựng lên và gần như hét lên. Cánh cửa đóng lại và Theresa nghe thấy tiếng bước chân. Con be nhảy khỏi giường, chạy đua từ phòng ngủ xuống hành lang đến tiền sảnh.
Và không thể tin được, Ray ở đó – vẻ ngoài cao ráo, ngang tàng, ngốc nghếch nhưng vẫn đẹp trai, mặc dù làn da của thằng bé nhợt nhạt đến mức tái xanh. Thằng bé mỉm cười với Theresa, dẫu lông mày thằng bé đang nhíu lại vì lo lắng. Miệng Ray bắt đầu câu hỏi, nhưng Theresa chạy đến bên và lao vào vòng tay Ray. Thằng bé lạnh lùng, lạnh đến chết người, và Theresa thở hổn hển.
“Mọi chuyện ổn chứ?” Ray hỏi, và giọng thằng bé giống như vào buổi sáng khi nó mới thức dậy, lạch cạch và không quen.
“Mọi thứ giờ đã ổn rồi,” Theresa nói, khóc vào vai Ray, ôm thằng bé chặt hơn những gì Theresa từng có trước đây.
Và đáp lại, Ray cũng ôm chặt con bé, nhưng tay thằng bé như lớp băng trên lưng Theresa vậy, cơ thể Ray cũng cứng đờ dựa vào con bé, và cho dù tai Theresa áp chặt vào ngực Ray, con bé không thể cảm thấy tim nó đang đập, sự thật là Theresa bác bỏ ngay khi con bé nhận ra điều đó.
Theresa quyết định nói với Ray mọi chuyện. Ngồi ở bàn bếp, con bé nắm lấy bàn tay băng giá của Ray bằng cả hai tay mình khi con bé kể lại mọi thứ từ vụ nổ súng ban đầu tại văn phòng của Ray, cái chết của thằng bé, đám tang và những cuộc điện thoại hàng ngày. Ray ngây người nhìn Theresa, gương mặt không chút hoảng hốt, bối rối hay thậm chí là hồi ức khi con bé kể. Con bé ngồi lại ghế và xem xét Ray một lúc. Tabula rasa, Theresa thẫn thờ nghĩ khi nhìn Ray.
Ray không đói. Ray không khát. Thằng bé hài lòng ngồi yên lặng cho đến khi Theresa chỉ đường cho thằng bé di chuyển. Trái tim con bé đau nhói với những cảm xúc nhẹ nhõm và bối rối khủng khiếp, và Theresa chăm chú quan sát thằng bé, không thể che giấu sự hoang mang hiện rõ trên khuôn mặt, nhưng Ray không bao giờ hỏi con bé có chuyện gì.
Tối hôm đó, Theresa dẫn Ray đến phòng ngủ của họ, nơi thằng bé đứng thẫn thờ bên chân giường và nhìn Theresa như thể mình chưa từng ở trong phòng trước đó vậy. Theresa cởi quần áo cho Ray, và khi làm vậy con bé nhận ra rằng Ray đang mặc bộ quần áo làm việc của mình, không phải bộ đồ mà thằng bé mặc khi được chôn cất – bộ đồ đáng ra Ray đã mặc vào ngày cưới của họ. Theresa kéo chăn lại và bảo Ray nằm xuống. Thằng đã làm như vậy với sự vâng lời im lặng.
Theresa trượt vào bên cạnh Ray và hôn thằng bé. Nụ hôn của Ray vừa quen thuộc vừa xa lạ. Đôi môi Ray mềm mại và thụ động, nơi chúng luôn cứng rắn và khăng khăng trước đây, và không có chút ấm áp nào ở đó. Nhưng kết cấu và hương vị nụ hôn vẫn giống nhau, và Theresa gần như khóc khi họ ôm nhau một lần nữa. Họ trải qua một cuộc say đắm, Theresa bắt đầu và dẫn dắt nơi Ray luôn đảm nhiệm trước đây, và trong khi trái tim con bé trào dâng niềm vui sướng khi được chồng ôm ấp một lần nữa, cơ thể con bé rùng mình vì sự chạm vào của Ray.
Khi Theresa thức dậy vào sáng hôm sau, ánh sáng mặt trời chạm vào hàng mi, con bé đưa tay ra mà không mở mắt. Nhưng ngón tay của con bé không chạm được thứ gì. Bên giường của Ray trống không, tấm chăn được kéo lên như thể thằng bé chưa từng ở đó. Theresa đột ngột ngồi dậy.
“Ray?” Con bé gọi. Không có câu trả lơi. Con bé tìm kiếm trong nhà, gọi ray nhiều lần. Nhưng thằng bé đã ra đi.
Theresa quay trở lại phòng ngủ, cảm thấy vừa bối rối vừa buồn bã. Ray đã đi đâu? Và liệu thằng bé có quay lại không?
Và sau đó, ngay vào trưa, điện thoại của con bé đổ chuông. Màn hình hiển thị: RAY.
Con bé đã trả lời nó. “Ray?”
“Reese,” Ray nói, giọng thằng bé thậm chí còn khàn khàn và bất bình thường hơn trước. “Đừng lo lắng. Anh biết có một kẻ bắn súng. Anh đang về nhà.”
Đường dây bị ngắt và Theresa đặt điện thoại của mình xuống. Lồng ngực con bé thắt lại trong một chuỗi cảm xúc – buồn bã, hy vọng, thất vọng và thậm chí là sợ hãi – đến nỗi con bé nhận ra rằng mình hầu như không còn cảm nhận được gì nữa.
Nhưng việc trở về nhà, Ray đã làm. Và điều này đã trở thành khuôn mẫu mới của hai đứa – một vòng luẩn quẩn mà họ mắc phải. Mỗi ngày thằng bé về nhà, mỗi ngày trông càng nhợt nhạt hơn và càng lạnh lùng hơn khi Theresa chạm vào, tính cách của thằng bé càng lún sâu vào cái vỏ rỗng tuếch, dựng lên một khoảng trống sau đôi mắt đã từng say đắm và tràn đầy nhựa sống. Theresa phải bảo thằng bé ngồi ăn, tắm cho mình. Thằng bé giống như một người đàn ông lớn tuổi mất đi khả năng sử dụng các giác quan của mình, và Theresa trở thành người chăm sóc yêu thương, nhưng có phần bối rối và sợ hãi của thằng bé.
Và mỗi buổi sáng, bên giường của Ray lại trống rỗng, và thằng bé sẽ gọi điện cho Theresa từ chỗ làm ngay sau buổi trưa để nói với nó rằng thằng bé sẽ về nhà. Theresa nhận thấy mỗi lần như vậy, giọng nói của Ray giống như đang bị kéo qua phiến đá. Con bé tưởng tượng như thể hợp âm của thằng bé đang suy tàn. Không lâu sau, sắc mặt của thằng bé bắt đầu hoà nhịp với giọng nói. Ray bắt đầu trông có vẻ khô héo hơn về thể chất, khung xương cao bắt đầu cong xuống, đôi mắt to hốc hác khi khuôn mặt ngày càng nhăn nhúm và má hóp hơn.
Theresa cho phép vòng lặp này tiếp tục trong nhiều tháng, tình yêu của con bé dành cho chồng nhốt nó vào địa ngục trần gian, nhưng con bé cũng nhanh chóng suy sụp bản thân, sức khỏe tinh thần và cả thứ tình cảm đổ nát với vẻ mặt của Ray.
“Anh chuẩn bị về đây,” thằng bé nói với Theresa qua điện thoại, giọng Ray như những tảng đá bụi cọ vào nhau khiến con bé khó nhận ra.
“Chờ đã,” Theresa đã nói. “Ray – đừng. Đừng về nhà. Ở đó. Không sao đâu. Hãy ở đó.”
“Không,” thằng bé trả lời, chậm rãi và không có cảm xúc. “Không, nếu anh ở lại đây, anh sẽ chết. Anh sẽ về nhà.”
Theresa đã cúp điện thoại, khóc lóc và đợi chồng trở về một lần nữa. Con bé khóc vì chồng mình đã chết. Con bé khóc vì Ray vẫn sống và đang chết nhiều hơn mỗi ngày ngay trước mắt mình. Con bé khóc bởi vì nó cảm thấy bị ràng buộc với Ray trong bất kỳ vòng lặp đi lặp lại nào, về cái chết của Ray và tình yêu mà họ đã tạo ra. Và con bé đã khóc vì sau cùng cả hai lại ở bên nhau, nhưng Theresa cảm thấy hoàn toàn đơn độc.
Cuối cùng, vào ngày mà Theresa tự kết liễu đời mình, con bé đã đưa ra một quyết định, một quyết định đến với nó một cách dễ dàng và không hề sợ hãi. Trên thực tế, ý tưởng này đã mang lại cho con bé sự thoải mái đầu tiên mà Theresa có thể cảm nhận kể từ khi Ray qua đời. Có lẽ, chìa khóa để thoát khỏi địa ngục trần gian này chính là tự kết liễu bản thân. Chính xác hơn là chết bên cạnh Ray khi cả hai ngủ cùng nhau trên giường. Và vào buổi sáng, khi thằng bé đi, có lẽ Theresa cũng có thể ra đi. Từ giã cõi đời, nhưng cùng nhau.
Con bé đã gọi cho tôi vào buổi chiều hôm đó để kể cho tôi nghe câu chuyện của mình, cho tôi biết kế hoạch của con bé, và để nói lời tạm biệt với tôi. Tôi lắng nghe với sự hoài nghi kinh khủng khi con bé kể lại chi tiết về cuộc sống khốn khổ của nó trong những tháng kể từ lúc Ray qua đời. Câu chuyện của con bé là một câu chuyện mà tôi không thể chấp nhận là sự thật, nhưng đồng thời tôi hiểu, từ giọng nói mệt mỏi nhưng kiên quyết của nó, rằng con gái tôi đang nói với tôi sự thật tuyệt đối.
“Bây giờ Ray có ở đó không?” Tôi hỏi con bé.
“Vâng,” Theresa đáp một cách mệt mỏi. “Bố có muốn nói chuyện với anh ấy không?”
Tôi không trả lời, nhưng sau đó tôi nghe thấy Theresa nói từ xa, “Bố đó anh. Anh nói chuyện với ông ấy nhé.”
Có một âm thanh xáo trộn, sau đó là tiếng thở gấp gáp.
“Ray?” Tôi nói, và tôi ngạc nhiên khi nhận ra giọng nói của chính mình đang run lên.
Thằng bé không trả lời, nhưng tôi có thể nghe thấy Ray đang cố gắng. Tất cả những gì tôi nhận được là âm thanh hơi thở nặng nhọc của thằng bé và những âm điệu mơ hồ trong giọng nói của Ray, khi thằng bé cố gắng cất lời. Nhưng tiếng nói của thằng bé đã bị cắt xén, giọng nói Ray cứ trôi tuột.
Theresa lấy lại điện thoại. “Con phải đi bây giờ, bố à.”
“Con yêu, đừng làm thế này,” tôi nói, vừa khóc vừa cố gắng giữ mình lại. “Bố yêu con. Mẹ con cũng yêu con. Hãy để chúng ta giúp con. Phải có vài cách khác.”
Theresa bắt đầu khóc. “Không còn cách nào khác đâu, bố ơi. Đây là cách duy nhất.”
“Không,” tôi nhấn mạnh. “Con vẫn còn rất nhiều điều để sống. Hãy để bố đưa con đi khỏi đó. Con có thể đến đây. Có lẽ Ray sẽ không đến với con nữa nếu con không còn ở đó.” Tôi cảm thấy mình đang giả vờ với con bé, vì tôi không chắc mình hoàn toàn tin tưởng con bé.
“Bố ơi, còn có chuyện khác,” con bé nói, thở một hơi dài và kiệt sức. “Con mang thai rồi.”
“Con đã ——” Tôi mở lời, rồi dừng lại. Một cục đá cứng nổi lên trong cổ họng này. Tôi không thở được. Tâm trí tôi chắp nối mọi điều lại với nhau.
Theresa đã mang thai. Và Ray đã chết hơn một năm.
“Đó là của Ray,” con bé đáp, trả lời câu hỏi mà tôi còn chưa hỏi. “Nhưng đó là ——“ con bé chưa kết thúc câu nói. “Con không biết nó là gì. Con chỉ biết là con không thể, bố ơi. Con không thể.” Cô ấy khóc.
Con bé nói lời tạm biệt cuối cùng với tôi, phớt lờ lời van xin của tôi. Và sau đó cuộc gọi kết thúc.
Tôi đã nói với các bạn làm thế nào mà cảnh sát tìm thấy con bé. Khám nghiệm tử thi cho thấy con bé đã chết khi tiêu thụ một lượng lớn thuốc ngủ do người bạn thân Sheryl bỏ lại. Khám nghiệm tử thi cũng cho thấy con bé đã mang thai được vài tháng. Tôi khẳng định không bao giờ tiết lộ chi tiết này với mẹ con bé. Xa lánh và cách trở, mặc dù vậy, người mẹ nên bỏ qua một số điều kinh hoàng khi nhắc đến đứa con của mình.
Vì vậy, đây, như tôi đã nói, là câu chuyện của Theresa. Và câu chuyện về Ray của chồng con bé. Và bạn có thể không tin tôi, nhưng đó là một câu chuyện hoàn toàn có thật, nghe có vẻ viển vông. Bây giờ thì tôi tin Theresa, mặc dù hai tuần trước khi con bé kể cho tôi câu chuyện của mình lần đầu tiên, tất nhiên tôi đã nghi ngờ con bé. Nhưng tôi không còn nghi ngờ nó nữa, không một chi tiết nào. Vì con bé cũng gọi điện để kể lại tất cả cho tôi nghe, mỗi ngày.
_____________________
Dịch bởi soleune
